Đức Chúa Trời, Đấng mở ra cánh cửa hy vọng

12,349 lượt xem

Sống trên thế gian này, đôi khi chúng ta gặp phải những thử thách và trở ngại. Cũng có nhiều người bỏ cuộc hoặc nản lòng vì không tìm được lời giải đáp khi gặp phải vấn đề.

Khi dò xem 66 sách Kinh Thánh từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền, chúng ta có thể thấy rằng bất cứ khi nào người dân của Đức Chúa Trời đối mặt với thử thách hoặc trở ngại, thì đằng sau đó, chắc chắn Đức Chúa Trời đã mở sẵn cánh cửa được gọi là sự hy vọng. Đời sống trên đất này đôi khi khó khăn và khổ nhọc, nhưng đối với chúng ta, hết thảy đều là những việc diễn ra trong quá trình đi đến Nước Thiên Đàng vĩnh cửu, và Nước Thiên Đàng mà chúng ta sẽ đi vào trong tương lai thì mọi sự đều tràn đầy hy vọng. Đức Chúa Trời đã phán rằng thế giới ân huệ đã được sắm sẵn cho chúng ta; ấy là nơi không có sự chết, không có đau đớn, không có buồn rầu, và cuộc sống đầy vinh hiển cứ tiếp nối mỗi ngày. Ấy chẳng phải là điều đáng hồi hộp và mong đợi biết bao sao? Mong các người nhà Nước Thiên Đàng chúng ta luôn đồng hành cùng Đức Chúa Trời để được hầu việc Ngài trên Nước Thiên Đàng vĩnh cửu và được hưởng phước lạc đến đời đời mãi mãi.

Niềm hy vọng mà Đức Chúa Trời mở ra

Khi làm tôi mọi suốt hơn 400 năm ở xứ Êdíptô, đời sống của người dân Ysơraên đã thực sự rất khắc nghiệt và khổ nhọc. Từ đời này qua đời khác, họ đã cầu nguyện lên Đức Chúa Trời mỗi ngày, xin Ngài giải thoát họ khỏi nơi đau đớn ấy. Đức Chúa Trời đã sai Môise đến để trải ra lịch sử giải phóng mà họ hằng tha thiết mong đợi. Không những thế, Ngài còn sắm sẵn xứ Canaan, nơi họ và dòng dõi mình có thể cư ngụ một cách bình an.

Trên hành trình hướng đến Canaan là “xứ đượm sữa và mật”, không gian vật lý được gọi là đồng vắng đã ở ngay trước mắt họ. Đồng vắng là nơi đồng không mông quạnh đúng như tên gọi, và là vùng đất khô cằn chẳng có gì ngoài cát. Việc Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Ysơraên vào môi trường như vậy đều có lý do cả. Nếu họ định đi qua những vùng đất trù phú để tiến vào Canaan, thì chắc hẳn mỗi ngày họ phải giao chiến với các dân tộc vốn đã định cư ở đó.

Một tháng sau khi rời Êdíptô, số lương thực mà họ đã chuẩn bị và mang theo gần như cạn kiệt. Nếu đi theo đường thẳng thì chỉ cần mười ngày là có thể đến xứ Canaan, nhưng đã một tháng trôi qua mà vẫn chưa tới nơi, nên trong lòng dân chúng bắt đầu trào dâng cảm giác khủng hoảng. Với dân số ước tính khoảng 60 vạn nam đinh trên 20 tuổi, cộng với phụ nữ và trẻ em thì có khoảng 3 triệu người di chuyển, điều kiện sống hẳn đã khắc nghiệt đến mức nào khi nước và thực phẩm, là điều kiện cần thiết nhất để sinh tồn, lại không thấy đâu. Ấy quả là tình huống tuyệt vọng biết bao! Kể từ đó, họ liên tục phàn nàn rằng thiếu nước và thức ăn, đồng thời không ngừng oán trách và bất bình thay vì cảm tạ đối với ân huệ của Đức Chúa Trời, Đấng đã giải cứu họ khỏi đời sống nô lệ tại Êdíptô.

Trong quá trình đi qua con đường đồng vắng, dù có nhiều trở ngại nhưng Đức Chúa Trời luôn mở ra cánh cửa hy vọng cho họ và cuối cùng ban cho họ vùng đất hứa Canaan. Không một người nào đã bị chết do khát hay do đói trong đồng vắng cả. Đức Chúa Trời mỗi ngày đều ban lương thực như mưa xuống cho họ, và khi họ thiếu nước, Ngài khiến đập vào hòn đá và nước tuôn trào ra để họ không phải chịu sự bất tiện nào. Khi xem xét thì thấy rằng Đức Chúa Trời đã mở ra lịch sử đầy hy vọng ở nơi dường như thiếu thốn mọi thứ và khó sinh tồn.

“Hỡi Đức Giêhôva, xin cho tôi biết cuối cùng tôi, Và số các ngày tôi là thể nào; Xin cho tôi biết mình mỏng mảnh là bao. Kìa, Chúa khiến ngày giờ tôi dài bằng bàn tay, Và đời tôi như không không trước mặt Chúa… Quả thật, mỗi người bước đi khác nào như bóng; Ai nấy đều rối động luống công; Người chất chứa của cải, nhưng chẳng biết ai sẽ thâu lấy. Hỡi Chúa, bây giờ tôi trông đợi gì? Sự trông cậy tôi ở nơi Chúa.” Thi 39:4-7

Khi chúng ta đặt niềm trông mong nơi Đức Chúa Trời, chúng ta có thể đi theo bất cứ nơi nào Ngài dẫn dắt. Dù là nơi cằn cỗi đến đâu, hay là nơi có những trở ngại lớn đến mức nào chăng nữa, cánh cửa hy vọng vẫn luôn rộng mở cho những người đặt niềm trông cậy nơi Đức Chúa Trời. Vì vậy, ở nơi đồng vắng mà không một hạt ngũ cốc nào có thể mọc lên, lượng lương thực đủ cho bấy nhiêu người đã được ban xuống từ trời mỗi ngày trong suốt 40 năm. Cứ khi nào họ cần nước trong đồng vắng, Ngài hầu cho chỉ cần đập vào tảng đá, thì nước tuôn tràn ra đủ cho cả dân sự uống mà không hề thiếu thốn.

Trong quá trình sinh sống trên đất này, không thể không có khó khăn. Phải chăng chính nhờ những cơn sóng được gọi là khó khăn ấy mà chúng ta mới có được sức mạnh để tiếp tục tiến về phía trước? Kinh Thánh cho biết rằng khi gặp khó khăn, chúng ta hãy đặt sự trông cậy nơi Đức Chúa Trời thay vì nản lòng, bỏ cuộc hay tìm cách quay về quá khứ. Đức Chúa Trời là Đấng mở ra cánh cửa hy vọng cho chúng ta. Dù tuyệt vọng đến đâu, cánh cửa hy vọng vẫn luôn rộng mở cho những người nhờ cậy vào Đức Chúa Trời và đặt niềm trông mong nơi Ngài.

Đức Chúa Trời Mẹ cũng đã phán rằng “Phước lành được bọc trong giấy gói gọi là khổ nạn”. Trong hành trình Tin Lành mà chúng ta tiến hành, đôi khi gặp phải những chướng ngại vật và khó khăn mà chúng ta muốn né tránh, nhưng lại không thể không đi qua con đường ấy. Con người ai cũng quan tâm và lo lắng về những khó khăn của hiện thực, nhưng trong đó chúng ta cần phải suy nghĩ thêm một điều nữa. Đó là, Đấng mà hiện tại chúng ta đang tin tưởng và nhờ cậy là ai. Sự trông cậy của chúng ta ở nơi Đức Chúa Trời.

Nỗi tuyệt vọng của những người quên mất Đức Chúa Trời

Ngay cả trong đồng vắng, vẫn có cánh cửa hy vọng mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn. Song nhiều người đã không nhìn về phía cánh cửa ấy cho nên đã bị tuyệt vọng và chết mất.

“Tới rồi, bèn đến cùng Môise, Arôn và cả hội dân Ysơraên, trong đồng vắng Pharan, tại Cađe, mà thuật lại mọi sự cho hai người và cả hội chúng nghe, cùng đưa cho xem hoa quả của xứ. Vậy, các người ấy thuật cho Môise rằng: Chúng tôi đi đến xứ mà người đã sai chúng tôi đi; ấy quả thật một xứ đượm sữa và mật, nầy hoa quả xứ đó đây. Mà, dân sự ở trong xứ nầy vốn mạnh dạn, thành trì thật vững vàng và rất lớn; chúng tôi cũng có thấy con cái của Anác ở đó… Calép bèn làm cho dân sự, đương lằm bằm cùng Môise nín lặng đi, mà nói rằng: Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi, vì chúng ta thắng hơn được. Nhưng những người đi cùng Calép nói rằng: Chúng ta không đi lên cự dân nầy được, vì chúng nó mạnh hơn chúng ta. Trước mặt dân Ysơraên, các người đó phao phản xứ mình đã do thám mà rằng: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám, là một xứ nuốt dân sự mình; hết thảy những người chúng tôi đã thấy tại đó, đều là kẻ hình vóc cao lớn. Chúng tôi có thấy kẻ cao lớn, tức là con cháu của Anác, thuộc về giống giềng giàng; chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào, và họ thấy chúng tôi cũng như vậy.” Dân 13:25-33

Đây là cảnh mười hai thám tử đi do thám xứ Canaan và trở về trại của Ysơraên sau 40 ngày để báo cáo. Mười người thám tử đã báo cáo rằng mọi việc đều bất lợi. “Ở đó có tộc người cao lớn”. “Dân sự ở xứ ấy vốn mạnh dạn, thành trì thật vững vàng và rất lớn; chúng tôi thấy mình như cào cào, còn họ thì giống người”. Vì chỉ toàn nghe nói những lời bị ràng buộc bởi chủ nghĩa thất bại, nên cả dân sự đều rơi vào tuyệt vọng.

“Cả hội chúng bèn cất tiếng la lên, và dân sự khóc lóc trong đêm đó. Hết thảy dân Ysơraên lằm bằm cùng Môise và Arôn; cả hội chúng nói cùng hai người rằng: Chớ chi chúng tôi đã chết trong xứ Êdíptô, hay là đã chết trong đồng vắng nầy! Vì cớ nào Đức Giêhôva dẫn chúng tôi vào xứ nầy đặng bị gươm mà ngã? Vợ và con nhỏ chúng tôi sẽ bị làm một miếng mồi. Về phần chúng tôi, há chẳng khá trở về xứ Êdíptô hơn sao?” Dân 14:1-3

Khi được giải phóng khỏi ách nô lệ ở xứ Êdíptô, họ đã vui mừng đi theo Môise và Arôn, cùng tán dương Đức Chúa Trời, Đấng đã cứu rỗi họ. Tuy nhiên, sau khi nghe những lời báo cáo tiêu cực của mười người thám tử, dân sự đã đánh mất đức tin, vừa khóc lóc suốt đêm vừa lằm bằm về Môise và Arôn. Họ thậm chí còn nói rằng hãy trở lại xứ Êdíptô và kêu gọi từ bỏ vùng đất mà Đức Chúa Trời đã hứa.

Giôsuê và Calép nhìn trông niềm hy vọng

Khi dân sự nản lòng và mọi hy vọng đều sụp đổ, Giôsuê và Calép đã cất tiếng nói.

“Môise và Arôn bèn sấp mình xuống trước mặt cả hội dân Ysơraên. Giôsuê, con trai của Nun, và Calép, con trai của Giêphunê, là hai người trong bọn đi do thám xứ, bèn xé quần áo mình. Hai người nói cùng cả hội dân Ysơraên rằng: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám thật là một xứ rất tốt; nếu Ðức Giêhôva đẹp lòng cùng chúng ta, ắt sẽ đem chúng ta vào xứ nầy mà ban cho; ấy là một xứ đượm sữa và mật. Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Ðức Giêhôva, và đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ là đồ nuôi cho chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Ðức Giêhôva ở cùng ta. Chớ sợ chi.” Dân 14:5-9

Dù đã cùng đi do thám và trở về, nhưng mười người thám tử kia đã không nghĩ đến Đức Chúa Trời mà chỉ thuật lại theo như những điều họ thấy và cảm nhận từ thế giới hiện thực thấy được bằng mắt. Nhưng Giôsuê và Calép thì khác. “Sao phải lo lắng khi Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta chứ? Bọn họ là đồ nuôi của chúng ta!”. Giôsuê và Calép đã tin tuyệt đối vào lời hứa của Đức Chúa Trời rằng sẽ ban xứ ấy cho dân Ysơraên, nên họ đã thực sự trông thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở cùng.

Những người sống mà không đặt sự trông cậy nơi Đức Chúa Trời thì không thể xem thấy Đức Chúa Trời được mà chỉ nhìn thấy hiện thực đặt trước mắt mình mà thôi. Cuối cùng, khi ra khỏi xứ Êdíptô, trong số 60 vạn nam đinh từ 20 tuổi trở lên, không một ai được đi vào xứ Canaan ngoại trừ Giôsuê và Calép (Dân 14:26-38). Không có con đường nào có thể đi đến Canaan nếu không tin cậy Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã cho phép duy chỉ Giôsuê và Calép, những người tin cậy tuyệt đối vào Đức Chúa Trời được đi vào xứ đượm sữa và mật.

Ngày nay, chúng ta đang bước đi trên con đường đồng vắng đức tin. Trên con đường này, có lẽ sẽ có những lúc chúng ta phải đối mặt với hoàn cảnh tuyệt vọng hơn cả con đường đồng vắng mà người dân Ysơraên đã bước đi. Song, dù hoàn cảnh và tình huống khiến nản lòng đến đâu chăng nữa có xảy ra, thì Đức Chúa Trời, Đấng mở cánh cửa hy vọng, vẫn luôn ở cùng chúng ta. Thay vì từ bỏ với suy nghĩ rằng mọi chuyện sẽ không thành, chúng ta nhất định phải có thái độ sống với suy nghĩ rằng “Vì Đức Chúa Trời ở cùng nên nhất định có cách. Chúng ta hãy tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời và tiến bước”.

Thường ngày chúng ta trông cậy vào Đức Chúa Trời, nhưng khi tình huống ập đến thì chúng ta lại quên mất. Khi dân Ysơraên ra khỏi Êdíptô, họ đã có đức tin nhờ cậy Đức Chúa Trời; nhưng khi sinh hoạt trong đồng vắng, họ cứ mải nhìn vào hiện thực. Mười người thám tử cũng đã hoàn toàn quên mất lời hứa của Đức Chúa Trời và chỉ nói về những vấn đề thực tế. Từ lúc đó, sự lằm bằm bắt đầu nảy sinh. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng không được tuyệt vọng hay nản chí. Chúng ta phải luôn đặt niềm trông cậy ở nơi Đức Chúa Trời và nhìn trông Ngài. Ngay cả khi mọi thứ dường như bị chặn bởi bức tường, rõ ràng vẫn có con đường mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta.

Cánh cửa hy vọng Đấng Christ đã mở ra cho chúng ta

Khi gặp phải những trở ngại trong cuộc sống trên đất này, chúng ta đừng sợ hãi mà hãy phó thác mọi sự cho Đức Chúa Trời và giải quyết vấn đề của mình. Khi ấy, chúng ta sẽ phát hiện ra cánh cửa hy vọng mà Đức Chúa Trời đã mở sẵn cho chúng ta.

“Khi Đức Chúa Jêsus ở trên bờ hồ Ghênêxarết, đoàn dân đông chen lấn nhau xung quanh Ngài đặng nghe đạo Đức Chúa Trời. Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ, người đánh cá đã xuống khỏi thuyền giặt lưới, thì Ngài lên một chiếc thuyền trong hai chiếc, là chiếc của Simôn… Khi Ngài phán xong thì biểu Simôn rằng: Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá. Simôn thưa rằng: Thưa thầy, chúng tôi đã làm suốt đêm không bắt được chi hết; dầu vậy, tôi cũng theo lời thầy mà thả lưới…” Lu 5:1-5

Phierơ vốn là một ngư dân, ông đã thả lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào. Là ngư dân sống bằng nghề đánh bắt cá thì ấy quả là tình huống không thể không chán nản và thất vọng. Lúc đó, Đức Chúa Jêsus đã phán rằng “Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá”.

Nếu Phierơ nói rằng “Tôi mệt mỏi rồi nên không làm nổi nữa” và không nghe theo lời Ngài thì có lẽ ông đã không được nếm trải kỳ tích ấy. Khi tin cậy lời Ngài và thả lưới lần nữa, ông đã bắt được nhiều đến nỗi hai chiếc thuyền chở đầy cá và như gần chìm (Lu 5:6-11).

Khi chúng ta cảm thấy không có cách nào, Đức Chúa Trời sẽ mở ra cánh cửa hy vọng và dẫn dắt để chúng ta có thể hướng tới cánh cửa ấy. Đối với các thánh đồ tin vào Đức Chúa Jêsus, khoảnh khắc tuyệt vọng nhất chính là khi Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh và hy sinh trên thập tự giá. Họ đã thấy người lãnh đạo của mình bị quân lính La Mã kéo lê đi mà đóng đinh trên thập tự giá, và họ cũng chứng kiến Ngài trút hơi thở cuối cùng. “Sắp tới phải làm sao đây? Tôi phải tin vào điều gì và tin như thế nào đây?”. Trong khi run rẩy vì sợ hãi, họ nhóm lại một chỗ và khóa chặt cửa.

Trong bối cảnh ấy, Đức Chúa Jêsus đã phá vỡ quyền thế của sự chết và phục sinh sau ba ngày từ giữa những kẻ chết. Sau khi đích thân xác nhận với các môn đồ trong 40 ngày rằng mình vẫn sống, Ngài đã thăng thiên trên núi Ôlive. Khi còn đang ngó xem cảnh Đức Chúa Jêsus thăng thiên, các môn đồ đã nghe tiếng thiên sứ phán rằng “Đức Chúa Jêsus đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại trong hình dáng xác thịt như cách các ngươi đã thấy Ngài”. Thông qua những sự việc này, sự trông cậy của họ vào Đức Chúa Trời càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Mười ngày sau, tức là Lễ Ngũ Tuần, các môn đồ nhóm lại tại phòng cao của Mác và nhận lãnh Thánh Linh mưa đầu mùa trong lúc họ đang cầu nguyện. Trước đây, họ đã giấu kín việc mình tin Đức Chúa Jêsus, nhưng giờ đây, họ bày tỏ rất dạn dĩ rằng “Duy chỉ Đức Chúa Jêsus là Đấng Cứu Chúa ban sự cứu rỗi cho loài người chúng ta, ai muốn nhận sự cứu rỗi thì phải tin vào Đức Chúa Jêsus”. Xã hội Giuđa vẫn coi Đức Chúa Jêsus chỉ như “con trai của người thợ mộc” và họ bài xích rằng tín ngưỡng tin vào Đức Chúa Jêsus là “tôn giáo tin rằng con người là Đức Chúa Trời”, là “phe người Naxarét”. Tuy nhiên, các môn đồ trực tiếp chứng kiến sự phục sinh và thăng thiên của Đức Chúa Jêsus đã trở nên vô cùng dạn dĩ và gắng hết sức với sứ mệnh làm nhân chứng của Ngài, họ rao truyền cho cả nhân loại sự thật rằng Đức Chúa Trời đã hiện ra như một người mà đến thế gian này để thực hiện công việc cứu rỗi kỳ diệu và ân huệ.

Hoàn thành Tin Lành, cánh cửa hy vọng được mở ra cho nhân loại

Trong khoảnh khắc tuyệt vọng nhất, Đấng Christ đã cho tất cả các thánh đồ thấy rằng Ngài chính là cánh cửa lớn của sự hy vọng. Chúng ta, những người đang sống vào thời đại Đức Thánh Linh, đừng dậm chân tại chỗ bởi thất vọng hay nản lòng dù ở trong tình huống nào. Thay vào đó, chúng ta phải hướng tới cánh cửa hy vọng mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn, nhờ đó cùng hoàn thành Tin Lành thế giới.

Đức Chúa Trời đã ban sứ mệnh hoàn thành Tin Lành cho các thánh đồ thời đại này. Khi chúng ta nói về việc “hoàn thành Tin Lành thế giới”, một số vị có thể lo lắng về cách thức và thời điểm Tin Lành sẽ được rao truyền cho hơn 8 tỷ người trên thế giới. Nhưng chúng ta hoàn toàn không cần phải lo lắng. Vì đó là điều mà Đức Chúa Trời đã hứa.

“Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu. Tin lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.” Mat 24:13-14

Lời phán về việc Tin Lành Nước Thiên Đàng sẽ được giảng ra khắp thế giới là lời tiên tri mà chính Đức Chúa Jêsus đã đích thân phán khi Ngài đến thế gian này vào 2000 năm trước. Lịch sử này nhất định sẽ được hoàn thành. Chúng ta đã được kêu gọi vào công việc mà Đức Chúa Trời nhất định làm cho thành tựu. Chúng ta hãy chia sẻ về giao ước mới để khiến thế gian tối tăm và mờ mịt này được biến hóa thành thế giới của sự sáng; cũng hãy cho biết về danh mới của Cha, cho biết về Đức Chúa Trời Mẹ và cho biết về Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy mở rộng cánh cửa cơ hội cho tất cả mọi người trên thế giới để họ có thể tìm thấy con đường cứu rỗi.

Quá trình này không hề dễ dàng. Mỗi quốc gia và nền văn hóa đều có những khó khăn riêng. Nhưng vì Đức Chúa Trời đã phán rằng Tin Lành Nước Thiên Đàng sẽ được giảng ra khắp cả thế gian, nên chúng ta phải tin vào lời phán ấy. Đối với chúng ta có Đức Chúa Trời, Đấng hứa ban xứ Canaan trên trời và dẫn dắt chúng ta đến nơi ấy. Khi nhìn vào điều này, chúng ta thấy có những hạn chế nhưng đừng chỉ nhìn vào những hạn chế đó, mà hãy luôn nhìn trông vào lời hứa của Đức Chúa Trời và nhờ cậy vào Ngài.

Sở dĩ ngày nay Siôn có mặt trên khắp thế giới là vì có Đức Chúa Trời luôn mở ra cánh cửa hy vọng cho chúng ta. Khi mọi việc được tiến hành theo lời của Đức Chúa Trời, thì công việc ân huệ luôn xảy ra ở những nơi mà mọi người không bỏ cuộc và thất vọng. Chúng ta hãy có đức tin và luôn nhìn hướng tới cánh cửa hy vọng mà Đức Chúa Trời đã mở sẵn. Mong quý vị kết dư dật trái Thánh Linh và trái lúa mì đẹp đẽ kể cả trong năm mới để dâng vinh hiển lên Đức Chúa Trời.