WATV.org is provided in English. Would you like to change to English?

Ysơraên

2239 Xem

1. Tên khác của Giacốp

Giacốp đem theo tất cả gia đình và ra khỏi nhà của Laban, cậu mình. Trên đường trở về quê hương, khi đến rạch Giabốc, người đem gia đình và tất cả của cải mình qua rạch an toàn. Vả, một mình Giacốp ở lại, thì có một người vật lộn với Giacốp đến rạng đông. Nhưng Giacốp đã nói rằng “Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi.” Giacốp đã xin nhận phước lành dầu đã phải chịu đau đớn bị trặc xương hông.

Người đó hỏi trên Giacốp là gì, rồi người lại nói “Tên ngươi sẽ chẳng là Giacốp nữa, nhưng tên là ‘Ysơraên’.” (Sáng Thế Ký 32:24-28). Từ đó, Giacốp cũng được gọi là Ysơraên thay vì tên vốn có là Giacốp.

※ Tên Ysơraên nghĩa là “người vật lộn cùng Đức Chúa Trời và được thắng”.

2. Con cháu của Giacốp

Con cháu của Giacốp còn được gọi là “con cháu của Ysơraên” hay “Ysơraên”.

“Nhưng, trong cả dân Ysơraên dầu đến một con chó cũng sẽ chẳng sủa hoặc người, hoặc vật; hầu cho các ngươi biết rằng Đức Giêhôva phân biệt dân Ysơraên cùng người Êdíptô là dường nào.” Xuất Êdíptô Ký 11:7

Vì vậy, từ “Ysơraên” bao hàm cả Giacốp lẫn con cháu người.

3. Tên của quốc gia

Sau khi vua Salômôn qua đời, đất nước Ysơraên bị chia làm hai nước: nước phía Nam được gọi là Giuđa (gồm 2 chi phái là Giuđa và Bêngiamin, được cai trị bởi Rôbôam con trai của Salômôn), nước phía Bắc được gọi là Ysơraên (10 chi phái). Từ lúc đó, các đấng tiên tri gọi 2 đất nước là “nhà Ysơraên” và “nhà Giuđa” (Giêrêmi 11:10). [Nam Giuđa và Bắc Ysơraên]

Năm 70 SCN, thành Giêrusalem bị diệt vong bởi quân đội La Mã, 1900 năm sau, con cháu Giacốp khôi phục lại đất nước và họ đặt tên nước là “Ysơraên”.

4 . Người dân Ysơraên phần hồn

Vào thời Cựu Ước, người dân Ysơraên là con của lời hứa được thừa hưởng vùng đất mà Đức Chúa Trời đã ban cho. Dân Ysơraên phần xác là hình bóng của người dân Ysơraên phần linh hồn vào thời đại Tân Ước. Người dân Ysơraên phần linh hồn được Đức Chúa Trời lựa chọn sẽ thừa hưởng Nước Thiên Đàng nhờ vào giao ước mới.

Vì vậy vào thời Tân Ước, từ “Ysơraên” cũng có nghĩa là “người dân Ysơraên phần linh hồn”.

“Nguyền xin sự bình an và sự thương x​ót giáng trên hết thảy những kẻ noi theo mẫu mực này, lại giáng trên dân Ysơraên của Đức Chúa Trời nữa.” Galati 6:16

“Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Ápraham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.” Galati 3:29

“Hỡi Bếtlêhem, đất Giuđa! Thật ngươi chẳng phải kém gì các thành lớn của Giuđa đâu, vì từ nơi ngươi sẽ ra một tướng, là Đấng chăn dân Ysơraên, tức là dân ta.” Mathiơ 2:6

Quê hương Nước Thiên Đàng vĩnh cửu chỉ được kế thừa bởi những người dân Ysơraên phần linh hồn, chứ không phải những người dân Ysơraên phần xác thịt.